THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN NĂM 2024

thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

Trong những năm gần đây, lĩnh vực lao động ở nước ta ghi nhận sự gia tăng của các tranh chấp lao động, đặc biệt là tranh chấp về tiền lương, BHXH, hợp đồng lao động. Pháp luật nước ta đã quy định cụ thể và rõ ràng cơ chế giải quyết tranh chấp lao động phù hợp với thực tiễn, giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động cũng như góp phần ổn định quan hệ lao động. Trong bài viết này, HR Legal cung cấp cho quý vị thông tin về tranh chấp lao động cá nhân  và trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo quy định của Bộ luật Lao động hiện hành. 

Tranh chấp lao động là gì?

Khái niệm tranh chấp lao động

thế nào là tranh chấp lao động
Thế nào là tranh chấp lao động?

Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện người lao động với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động. 

Phân loại tranh chấp lao động 

Tranh chấp lao động được chia thành hai loại:Tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể. 

Tranh chấp lao động cá nhân

Điểm a Khoản 1 Điều 179 Bộ luật Lao động quy định về tranh chấp lao động cá nhân như sau: tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp giữa người lao động với người sử dụng lao động; giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.

Tranh chấp lao động tập thể

Điểm b Khoản 1 Điều 179 Bộ luật Lao động chia tranh chấp lao động tập thể thành hai loại là tranh chấp lao động tập thể về quyền hoặc tranh chấp lao động tập thể về lợi ích. Đây là loại tranh chấp giữa một hay nhiều tổ chức đại diện người lao động với người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều tổ chức của người sử dụng lao động.

Đọc thêm về thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích tại đây

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

Điều 187 Bộ luật Lao động quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân thuộc về cơ quan, tổ chức, cá nhân sau đây:
1. Hòa giải viên lao động;
2. Hội đồng trọng tài lao động;
3. Tòa án nhân dân
Quy định đa dạng về chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân như vậy là để phù hợp với đa dạng loại tranh chấp trên thực tế, giúp bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động khi là bên yếu thế trong quan hệ lao động. 

Tuy nhiên, dù là chủ thể nào đi chăng nữa thì khi giải quyết tranh chấp lao động cá nhân vẫn phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc mà pháp luật đã quy định. Theo đó, cần phải tôn trọng quyền tự định đoạt thông qua thương lượng của các bên trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp lao động. Đồng thời luôn giải quyết một cách công khai, minh bạch, khách quan, kịp thời, nhanh chóng và đúng pháp luật để bảo đảm sự tham gia của đại diện các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động.

Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 

thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

Việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân  do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tiến hành sau khi có yêu cầu của bên tranh chấp hoặc theo đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và được các bên tranh chấp đồng ý. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo từng phương thức sẽ được trình bày cụ thể sau đây. 

Hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động
Hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

Điều 188 Bộ luật Lao động quy định về trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động như sau: Tranh chấp lao động cá nhân phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết. Trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

  • Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
  • Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
  • Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
  • Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;
  • Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
  • Giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.

– Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hòa giải viên lao động nhận được yêu cầu từ bên yêu cầu giải quyết tranh chấp hoặc từ cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân thì hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.

– Tại phiên họp hòa giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể ủy quyền cho người khác tham gia phiên họp hòa giải. Hòa giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ các bên thương lượng để giải quyết tranh chấp.

– Trường hợp các bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành. Biên bản hòa giải thành phải có chữ ký của các bên tranh chấp và hòa giải viên lao động.

– Trường hợp các bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hòa giải để các bên xem xét. Trường hợp các bên chấp nhận phương án hòa giải thì hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành. Biên bản hòa giải thành phải có chữ ký của các bên tranh chấp và hòa giải viên lao động.

– Trường hợp phương án hòa giải không được chấp nhận hoặc có bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải không thành. Biên bản hòa giải không thành phải có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hòa giải viên lao động.

– Bản sao biên bản hòa giải thành hoặc hòa giải không thành phải được gửi cho các bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản.

– Trường hợp một trong các bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành thì bên kia có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết.

– Trường hợp không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải hoặc trường hợp hết thời hạn hòa giải mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải hoặc trường hợp hòa giải không thành thì các bên tranh chấp có quyền lựa chọn một trong các phương thức sau để giải quyết tranh chấp:
+ Yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết 
+ Yêu cầu Tòa án giải quyết

Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của Hội đồng trọng tài lao động

giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của hội đồng trọng tài lao động
Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của hội đồng trọng tài lao động

Điều 189 Bộ luật Lao động quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của Hội đồng trọng tài lao động như sau: Trên cơ sở đồng thuận, các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp trong trường hợp:

– Tranh chấp lao động cá nhân không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải
– Hết thời hạn hòa giải mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải tranh chấp lao động cá nhân 
– Hòa giải không thành tranh chấp lao động cá nhân 

Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp, Ban trọng tài lao động phải được thành lập để giải quyết tranh chấp. 

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Ban trọng tài lao động được thành lập, Ban trọng tài lao động phải ra quyết định về việc giải quyết tranh chấp và gửi cho các bên tranh chấp.

Lưu ý: Khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp, các bên không được đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ trường hợp:

– Hết 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp mà Ban trọng tài lao động không được thành lập.
– Hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày Ban trọng tài lao động được thành lập mà Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết tranh chấp.

Trường hợp một trong các bên không thi hành quyết định giải quyết tranh chấp của Ban trọng tài lao động thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án

Các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân trong các trường hợp sau đây:

– 06 trường hợp tranh chấp không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải quy định tại Khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự.
– Trường hợp hết thời hạn hòa giải mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải.
– Trường hợp một trong các bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành.
– Tranh chấp lao động cá nhân mà hai bên thỏa thuận lựa chọn Hội đồng trọng tài lao động giải quyết nhưng hết thời hạn theo quy định của pháp luật về lao động mà Ban trọng tài lao động không được thành lập, Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết tranh chấp hoặc một trong các bên không thi hành quyết định của Ban trọng tài lao động.

Theo đó, người lao động có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp được người lao động ủy quyền theo quy định của pháp luật.

Căn cứ Điều 32, Điều 35 và Điều 36 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân như sau:

Thẩm quyền theo cấp:
Các tranh chấp lao động cá nhân thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện, trừ các tranh chấp sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp tỉnh:
– Tranh chấp mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài;
– Tranh chấp cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

Thẩm quyền theo lãnh thổ
– Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức;
– Các bên trong tranh chấp có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của người lao động.

Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

Quy định về thời hiệu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, Điều 190 Bộ luật Lao động quy định như sau: 

Đối với trường hợp giải quyết tranh chấp lao động cá nhân thông qua hòa giải: 06 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
Đối với trường hợp giải quyết tranh chấp lao động cá nhân thông qua Hội đồng trọng tài lao động: 09 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
Đối với trường hợp giải quyết tranh chấp lao động cá nhân thông qua Tòa án:  01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

Lưu ý: Trường hợp người yêu cầu chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do khác theo quy định của pháp luật mà không thể yêu cầu đúng thời hạn quy định tại 03 trường hợp trên thì thời gian có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do đó không tính vào thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.

Đọc thêm các bài viết tư vấn luật lao động.

Mời Quý vị theo dõi fanpage và tham gia group HR Legal để kịp thời cập nhật và trao đổi những thông tin pháp lý nhân sự mới nhất: 
– Fanpage: https://www.facebook.com/hrlegalvietnam 
– Group: https://www.facebook.com/groups/hrlegal/  
– Email: hrlegalvietnam@gmail.com
.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *